Bàn về việc đổi mới chương trình và phương pháp đào tạo kỹ sư tự động hóa từ phía những người học, chúng tôi muốn nhấn mạnh khi đặt vấn đề “học” mà lại không phải “dạy” là muốn đặt vị trí của của việc dạy và học trước yêu cầu của thực tiễn sản xuất. Đối với các kỹ sư làm việc trong các ngành công nghệ cao nói chung, ngành tự động hóa nói riêng thì vấn đề học tập không chỉ giới hạn trong trường đại học mà nó còn phải tiếp tục trong suốt cả quá trình làm việc sau này. Vấn đề đặt ra là trong thời gian học tập tại trường đại học, người kỹ sư phải học những gì và học như thế nào và từ đó chúng ta có thể hoạch định được việc dạy những gì và dạy như thế nào. Để giải quyết vấn đề này theo chúng tôi cần phải xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn đối với các kỹ sư tự động hóa.
Theo chúng tôi, người kỹ sư tự động hóa trước hết phải nắm được những kiến thức cơ bản, có phương pháp tư duy hệ thống. Thứ hai là phải có khả năng tư duy sáng tạo vận dụng những hiểu biết của mình khi giải quyết những vấn đề của thực tiễn nhất là khi tham gia vào quá trình thiết kế, xây dựng các hệ thống tự động hóa. Và thứ ba là phải nắm được các kỹ năng khai thác thông tin để có thể tự học tập bổ sung kiến thức cho mình trong quá trình công tác.
Từ các yêu cầu của thực tiễn và tác động của sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ dẫn tới yêu cầu phải đưa thêm các mảng kiến thức mới, kiến thức nâng cao vào chương trình nhưng vẫn phải đảm bảo nội dung của các kiến thức cơ bản. Một thực tế là các kỹ sư ra trường trong những năm gần đây được tiếp cận với các kiến thức mới nhiều hơn nhưng cũng có phần sa sút về các mảng kiến thức cơ bản.
Chúng ta có thể giải quyết được mâu thuẫn này khi áp dụng đồng bộ các giải pháp sau:
- Không nhất thiết phải học tất cả
Sự phát triển theo cả chiều sâu và chiều rộng của công nghệ tự động hóa làm cho số môn học tăng lên và trong khuôn khổ hạn hẹp của 5 năm đào tạo chúng ta không thể thực hiện được việc truyền tải tất cả các môn học, mà môn nào cũng thấy là cần thiết khi so sánh với yêu cầu của thị trường lao động. Xu hướng đào tạo theo chuyên ngành rộng còn các kỹ sư sẽ tự bổ sung kiến thức khi ra công tác đang trở lên phổ biến. Tuy nhiên, nhược điểm cơ bản của xu hướng này là sinh viên phải học một lượng kiến thức nhiều hơn thực tế sử dụng nhưng khi tốt nghiệp lại chưa thể bắt tay vào làm việc ngay dẫn tới kéo dài thời gian đào tạo thực tế (không phải là 5 năm nữa mà là 6 hoặc 7 năm) gây lãng phí lớn cho xã hội, giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế. Chúng ta sẽ thấy rõ điều này hơn khi đặt khoảng thời gian đào tạo này trong tương quan với quỹ thời gian lao động của một đời người vào khoảng 35 năm. Hơn nữa, hai năm thêm vào của quá trình đào tạo này là những năm mà khả năng sáng tạo của con người là tốt nhất. Ở đây chúng ta cần xem xét lại một thực tế là các kỹ sư khi ra trường sẽ không làm việc trong mọi lĩnh vực mà tự động hóa bao trùm và do vậy việc đào tạo tất cả các môn học cho mọi kỹ sư sẽ là không cần thiết. Giải pháp cho vấn đề này là thiết kế chương trình đào tạo vừa đáp ứng yêu cầu đa dạng của thị trường lao động và vừa đáp ứng được yêu cầu chuyên sâu nhưng không đòi hỏi sinh viên phải học hết các môn học. Có nghĩa là các kỹ sư tốt nghiệp trong cùng một khóa học không nhất thiết phải học những môn giống nhau. Về lâu dài hướng đào tạo theo tín chỉ sẽ là giải pháp thích hợp cho mục tiêu đào tạo như vậy. Tuy nhiên trong giai đoạn trước mắt khi ta chưa đủ điều kiện tiến hành việc đào tạo theo tín chỉ có thể khắc phục bằng cách hoạch định chương trình cơ bản trong ba năm rưỡi hoặc bốn năm đầu, năm thứ năm được chia thành nhiều chuyên đề cho phép sinh viên tự lựa chọn. Số lượng và nội dung các chuyên đề có thể thay đổi để thích ứng với yêu cầu của sản xuất. Trước mắt, các chuyên đề có thể là: Tự động hóa quá trình sản xuất, điện tử công suất nâng cao, truyền động điện nâng cao, tự động hóa tòa nhà,... Thông qua các chuyên đề này, ngoài việc tiếp cận với các kiến thức nâng cao sinh viên sẽ được rèn luyện phương pháp tư duy hệ thống.
Những năm gần đây đã bổ sung thêm hình thức đào tạo cử nhân cao đẳng tự động hóa. Đây là một bước bổ sung kịp thời cho lực lượng lao động kỹ thuật của ngành tự động hóa. Để hoàn thiện thêm hệ thống nhân lực kỹ thuật của ngành tự động hóa, chương trình đào tạo cử nhân cao đẳng tự động hóa không nên làm theo hướng thu nhỏ chương trình đào tạo kỹ sư mà nên thiết kế sao cho cử nhân cao đẳng tự động hóa có nhiều kỹ năng thực hành hơn và kiến thức cơ bản thì ở mức độ có thể tự triển khai các thiết kế do kỹ sư thiết kế ra.
- Đổi mới phương pháp giảng dạy
Để sinh viên có thể tiếp thu được lượng kiến thức nhiều hơn trong khoảng thời gian ngắn hơn và đặc biệt là trang bị cho sinh viên kỹ năng tìm kiếm thông tin, kỹ năng tự học nâng cao trình độ chuyên môn sau này khi ra công tác đòi hỏi phương pháp giảng dạy phải có sự thay đổi. Nói chung kỹ sư đào tạo ra của chúng ta đều thiếu tính chủ động trong công việc. Trong nền kinh tế thị trường thì điều này làm giảm một cách đáng kể hiệu quả công việc của người kỹ sư. Để giải quyết vấn đề này việc giảng dạy cần phải theo hướng giảm tính áp đặt từ phía người dạy và tăng tính chủ động từ phía người học. Việc đánh giá kết quả học tập cũng nên theo hướng coi trọng tính sáng tạo của người học hơn.
- Đổi mới chương trình đào tạo liên tục
Sẽ là không thực tiễn nếu chúng ta áp dụng một chương trình với các môn học cố định cho việc đào tạo kỹ sư công nghệ cao nói chung, kỹ sư tự động hóa nói riêng trong sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ ngày nay. Đối với từng môn học cũng vậy, nội dung của nó cần được cập nhật đổi mới hàng năm theo sự phát triển của công nghệ chuyên ngành. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là đổi mới như thế nào? Về điểm này chúng tôi xin được tiếp cận vấn đề dưới góc độ và khía cạnh của người làm tự động hóa. Theo chúng tôi các cơ sở đào tạo cần phải thiết lập hệ thống phản hồi về kết quả đào tạo của mình từ phía những người sử dụng lao động và từ chính các kỹ sư mình đào tạo ra. Hệ thống phản hồi này có thể thông qua các diễn đàn, các cuộc hội thảo và thông qua việc phát các phiếu thăm dò và từ đó xử lý kết quả, đưa ra các điều chỉnh hợp lý. Đối với phương pháp giảng dạy cũng vậy, ta có thể tiến hành thu thập các ý kiến phản hồi từ chính sinh viên để có sự điều chỉnh cho phù hợp.
Cần phải nhìn thẳng vào sự thật là đội ngũ kỹ sư tự động hóa của chúng ta đã góp phần tích cực vào quá trình đổi mới công nghệ sản xuất của nền kinh tế trong những năm vừa qua nhưng so với yêu cầu của thực tiễn thì vẫn chưa đạt yêu cầu. Vấn đề đổi mới hệ thống giáo dục đại học theo hướng xã hội hóa đang còn có nhiều tranh cãi nhưng có lẽ đó là xu hướng không thể đảo ngược trước yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo đại học. Việc đào tạo kỹ sư tự động hóa cũng không nằm ngoài quy luật này, không có các trang thiết bị thí nghiệm và thực hành cần thiết ta không thể nói tới việc nâng cao chất lượng đào tạo. Khi các nguồn đầu tư từ phía Nhà nước còn hạn chế, cơ chế để tìm kiếm các nguồn đầu tư khác còn chưa có thì việc các kỹ sư của chúng ta bị đánh giá là “thiếu kỹ năng thực hành” là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, thực tế nền kinh tế thị trường không cho phép chúng ta chậm trễ và các trường đại học phải tìm cách nâng cao chất lượng đào tạo của mình nếu không muốn bị tụt hậu lại phía sau. Trong khi các nhà giáo dục vẫn đang bàn cãi về vấn đề đổi mới giáo dục đại học, về việc Nhà nước có nên “bảo lãnh” cho các tấm bằng đại học nữa không, thì thực tế tại hầu hết các doanh nghiệp việc sử dụng lao động, trả thù lao không còn dựa trên bằng cấp mà dựa trên kết quả công việc của người đó. Chúng ta chưa có một tổ chức nào tiến hành việc đánh giá chất lượng đào tạo cụ thể nhưng trên thực tế việc đánh giá chất lượng đào tạo đã diễn ra trên thị trường lao động.
Đối với việc đào tạo kỹ sư tự động hóa, theo chúng tôi đề xuất việc áp dụng tư tưởng của hệ thống quản lý chất lượng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo. Theo đó, chất lượng đào tạo sẽ được đảm bảo nếu ta đảm bảo chất lượng của các yếu tố liên quan như chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, chất lượng đầu vào, kiểm tra sát hạch từng môn học,...
Những ý kiến trên đây của chúng tôi có thể không bao quát được hết các vấn đề, các khó khăn của quá trình đào tạo kỹ sư tự động hóa nhưng từ góc độ của người học và sử dụng lao động chúng tôi mong muốn những ý kiến của mình như là các tín hiệu phản hồi giúp cho các nhà quản lý đào tạo có thêm thông tin để hoạch định chương trình đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo kỹ sư nói chung và kỹ sư tự động hóa nói riêng.
Lớp Tự động hóa K34 - Trường ĐHBK Hà Nội
(Theo: Tạp chí TĐHNN)
Việt Nam hiện có tới 2 chương trình tự động hoá (TĐH) cùng tồn tại. Tuy cùng mục tiêu nhưng sự phối hợp giữa các cơ quan chủ trì không rõ ràng và bộc lộ bất cập. Đây chính là vấn đề cần cải tổ và nên tập trung về một đầu mối. Xây dựng một chiến lược quốc gia dài hơi về TĐH là việc rất đáng làm.
Ông Trịnh Đình Đề (Hội Khoa học và Công nghệ TĐH) cho rằng: Từ lâu ta chỉ nhấn mạnh việc khai thác TĐH mà chưa hoạch định được sản phẩm về phần mềm, phần cứng, hệ thống... là gì. Bằng chứng là do chưa có trung tâm nào tập trung làm điều trên, nên người ta hiểu là chỉ có phần mềm trong ngành công nghệ thông tin và phần cứng trong các dây chuyền lắp ráp máy tính, ti-vi... TĐH chưa có mục tiêu và chỉ tiêu rõ ràng nào cần đạt được. Thực tế cho thấy, muốn có nền TĐH phát triển, cần có những tổng công trình sư giỏi. Đây là những cán bộ làm công tác kỹ thuật hoặc quản lý có kiến thức tổng hợp, có chuyên môn sâu về một ngành, am hiểu rộng các lĩnh vực có liên quan... Hiện nay, TĐH phát triển theo hướng tích hợp các công nghệ cho nên rất cần những tổng công trình sư.
Theo PGS-TSKH Phạm Thượng Cát (Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam), do sự phát triển mạnh của công nghệ thông tin, hướng nghiên cứu TĐH của Việt Nam rất cần quan tâm đến phát triển các hệ nhúng và phần mềm nhúng. Đây đồng thời là xu hướng của TĐH thế giới trong những năm tới.
Tại Hội nghị Tự động hóa toàn quốc lần thứ 6 (VICA 6), các đại biểu cho rằng Nhà nước cần nhanh chóng ban hành chiến lược và lộ trình phát triển TĐH; tổ chức lại các chương trình: Khoa học công nghệ (KHCN), kinh tế kỹ thuật - Nhà nước về TĐH sao cho hợp lý. Quy mô và mức độ đầu tư không nên tản mạn như hiện nay mà cần có trọng điểm, gắn với mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định. Ví dụ, 5 năm tới Việt Nam chủ trương phát triển công nghiệp đóng tàu, theo đó Chương trình TĐH sẽ chủ yếu tập trung vào lĩnh vực này, sao cho tổng hợp các đề tài về tổng thể sẽ đáp ứng tối đa được sự phát triển của ngành mà không cần phải nhập khẩu.
Một quy trình đồng bộ: đào tạo, nghiên cứu, sản xuất và dịch vụ, phát triển cơ sở hạ tầng; phát triển các sản phẩm KHCN TĐH mang thương hiệu Việt Nam; tiếp cận các hướng mới trong TĐH có chú ý đến điều kiện Việt Nam chính là điều cần làm ngay trong thời điểm hiện nay. Ai cũng đồng lòng cho rằng phát triển TĐH là tối cần thiết nhưng khi thực hiện từng nhiệm vụ cụ thể, có vô vàn cái khó cần phải có quyết sách kịp thời. Phải chăng, cái gốc thành công là ở điều này?
Cũng như nhiều ngành khác, ngành TDH chúng ta cũng hay hô khẩu hiệu " đi trước,đón đầu". Nhưng chúng ta lại cố gắng đi trước những người sản xuất ra công cụ mà chúng ta đang toan tính dùng để "đi trước". Hỏi rằng bao giờ sẽ đuổi kịp họ để đi trước, còn đón đầu bằng cách nào? Các ngành khác của nước ta đã đi trước đón đầu được vì họ đã tự sản xuất ra công cụ để làm việc đó. "Đi trước, đón đầu" là khẩu hiệu của TQ từ lâu rồi,họ làm được vì họ có ý trí và quyết tâm làm ra những gì mà thế giới làm được để tiến tới làm tốt hơn và rẻ hơn.
Ngành chúng ta nhiều anh tài nhưng chưa có " minh chủ" nên mỗi người mỗi phách, nói thì giỏi nhưng sau khi nói xong ai cũng phải quay lại lo cho cuộc sống của mình và để lại sau lưng những ý định tốt đẹp vừa nói ra.
Bao giờ ra đời Hiệp hội TDH thì lúc đó thị trường TDH mới thực sự lành mạnh và mới là động lực cho ngành phát triển.
Hiện nay,bao nhiêu phần trăm SV ra trường làm tại các doanh nghiệp? Hơn 70%. Thị phần TDH của khối doanh nghiệp : >80% và nhiều con số khác nữa. Nhưng chúng ta chẳng có 1 đại diện nào là phí chủ tịch hội hay phó tổng thư ký hội do chúng ta bầu ra cả. Vậy Hội KHCNTD có đại diện cho quyền lợi các doanh nghiệp TDH ko?
Hoạt động của Hội, có bao nhiêu % các doanh nghiệp quan tâm? Tạp chí của Hội ngoài nhu cầu quảng cáo, có bao nhiêu doanh nghiệp quan tâm viết bài mang tính thời sự hoặc học thuật( mà ko dính đến cái doanh nghiệp định bán).
Câu hỏi thật nhiều mà chưa có câu trả lời, chúng ta vẫn sống và phát triển một cách tự phát và mất cân đối....
Các bạn hãy quan tâm và góp thêm ý kiến.
Một năm mới sắp tới, nền Kinh tế nước nhà có bao nhiêu đổi thay, còn ngành Tự động hóa chúng ta chưa có gì mới cả, vẫn chỉ là các công ty nhỏ lẻ cạnh tranh lẫn nhau, giành dật những miếng bành nhỏ mà để cả mâm cỗ lớn cho các Hãng nước ngoài và dần dần cả các công ty TDH cua Thai và Sing sang chiếm lĩnh nữa. Chúng ta thiếu một cái gì đó để lớn lên, để thành công?!
Cơ hội của thị trường TDH ngày càng nhiều, nhưng rơi vào tay người Việt chẳng bao nhiêu. Thử xét tỷ lệ % tổng doanh số tất cả các Cty VN và Nước ngaòi trên thị trường việt thì rất rõ.
Các bạn TDH ơi, hãy chung sức làm một cái gì đó cho công động TDH chúng ta đi.
Em kinh nghiệm làm việc ít nhưng cũng mạo muội góp vài dòng. Em nghĩ hướng thiết kế dây chuyền máy móc, giải pháp công nghệ trọn gói phải là hướng đi đầu.
Hiện nay số lượng các nhà đầu tư tư nhân có khả năng mở nhà máy sản xuất các sản phẩm giấy, đồ ăn, đồ uống, sản phẩm gia dụng không phải là nhỏ. Nhiều khi những người có tiền, có hoài bão nhưng lại không biết về công nghệ, không biết phải bắt đầu từ đâu.
Khi đã có hướng đầu tư thì giải pháp đầu tiên của họ là chạy sang..TQ để tìm công nghệ. Em còn nhớ cách đây 2 năm có một anh muốn mở nhà máy giấy, sang TQ mua cả dây chuyền chỉ có...1,5 tỷ. Với số tiền đấy đi chào các đơn vị trong nước không ai muốn làm.
Từ đó em nghĩ: Một là các đơn vị trong nước nên xây dựng sẵn các giải pháp trong một lĩnh vực nhất định. Việc xây dựng có thể vẫn theo kiểu lấy ngắn nuôi dài, chia nhỏ việc phát triển thành nhiều đồ án, đề tài khoa học đưa vào các trường đh với một khoản học bổng nho nhỏ (?).
Hai là các doanh nghiệp quảng bá các giải pháp của mình, xây cầu nối đến các nhà đầu tư, tạo ra nhu cầu dùng tiền cho họ thay vì đua nhau đi chơi "chứng" như hiện nay.
Em mạo muội góp vài ý. Có gì chưa đúng mong các bác chỉ dạy.
theo tôi không chỉ TĐH mà tất cả các nghành nghề đều cần phải định hướng rõ ràng.
đi làm 3 tháng ở một nhà máy = học 3 năm ở trường
làm 1 cái đồ án = học >3 môn liên quan.
Dear all,
Tôi hiện đang công tác trong lĩnh vực BMS (Building Management System). Tôi cũng đang theo học thạc sỹ ngành " Tự động hóa" tại ĐH Bách Khoa HCM. Quả thật vừa đi làm vừa thâm nhập thực tế, tôi thấy rất là buồn cho nên giáo dục VN. Bởi vì nếu đi làm thì người ta cần kinh nghiệm và chỉ cần nắm kiến thức nền của ngành, ngoại ngữ tốt là đã có thể làm việc hiệu quả. Còn việc học thạc sỹ thì lại học theo hướng nghiên cứu mà ở Việt Nam chẳng có nơi đào nghiên cứu theo đúng nghĩa. Có thể bạn sẽ nói "Viện tự động hóa " để làm gì thỉ tôi xin thưa: Đây chỉ là viện ứng dụng tự động hóa thì đúng hơn. Nghĩ tới đây, tôi thấy Việt Nam lãnh phí vô cùng bởi nhẽ hàng năm cơ sở trong nước và các du học sinh học thạc sỹ, tiến sỹ về nước để làm gì?
Trong khi thực tế tại Việt Nam thì thực sự chưa cần lực lượng này. Vậy thì phải làm sao? Theo ý kiến của riêng tôi, nói như vậy không phải mọi thạc sỹ ,tiến sỹ đều không có đất dụng võ cụ thể như các ngành nghiên cứu nông nghiệp, nghiên cứu về y sinh học phục vụ thiết thực cho nước nhà thì hết sức cần thiết. Muốn các đối tượng thạc sỹ tiến sỹ kỹ thuật có đất dụng võ thì chúng ta phải phát triển theo các giai đoạn sau:
1)Phát triển thương mại về kỹ thuật (buôn bán hàng kỹ thuật)
2)Phát triển về dự án (lắp ráp , thử nghiệm và vận hành dự án)
3)Phát triển về nghiên cứu: Có nghĩa là sau khi làm dự án người tiêu dùng có những đòi hỏi về mặt kỹ thuật mà bản thân sản phẩm nội tại không đáp ứng được thì đòi hỏi phải có phòng nghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D) để phục vụ thực tế.
Hiện trạng ngành tự động hóa của Việt Nam đang ở giai đoạn 1) và đầu giai đoạn 2. Vậy theo quan niệm của riêng tôi muốn đội ngũ trí thức phát huy công dụng của mình thì kinh tế phải phát triển và người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi cao về những sản phẩm họ dùng (muốn vậy người tiêu dùng phải giàu có).
Kết luận: Tôi thực sự mong muốn các nhà lãnh đạo, các nhà doanh nghiệp và cả người dân phải tích cực làm giàu và tạo mọi điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ và người dân hãy là người tiêu dùng khó tính thì mới hy vọng ngành tự động nói riêng và các ngành kỹ thuật nói chung mới phát huy vai trò của chính nó.