Kỹ sư là người nắm chắc kỹ thuật lĩnh vực chuyên môn của mình. Người kỹ sư khác với một người thợ kỹ thuật ở chỗ anh ta cần hiểu biết sâu hơn người thợ. Anh ta có khả năng vận dụng những kiến thức chuyên môn một cách "thiện xảo", biến hóa nó, thay đổi nó, cải tiến nó. Anh ta có thể không có kỹ năng lành nghề bằng người thợ kỹ thuật bậc cao trong việc thực hiện các tác nghiệp cụ thể nào đó, nhưng anh ta luôn nắm vững nó một cách sâu sắc: biết vấn đề là gì, biết phải làm thế nào.
Còn tiến sỹ thì sao? Tiến sỹ thường là những người làm kỹ thuật đi tiếp bước nữa trong việc nghiên cứu để đạt được các học vị. Do đó anh ta đã có cái nền tảng của một người kỹ sư. Điểm đòi hỏi ở học vị tiến sỹ là khả năng nghiên cứu, nắm vững phương pháp nghiên cứu và phải thực sự có những công trình nghiên cứu có tính mới mẻ, có giá trị học thuật hoặc giá trị ứng dụng (dù là nghiên cứu trong khuôn khổ chương trình đào tạo tiến sỹ - nghiên cứu sinh). Ở nước ngoài, nhiều công trình nghiên cứu của các nghiên cứu sinh có giá trị ứng dụng cao trong sản xuất và lập tức nó được người ta phát triển để tạo ra các sản phảm có tính thương mại. Nhiều công trình nghiên cứu khác của các tiến sỹ có giá trị định hướng cho sự tiến lên của khoa học công nghệ (KHCN).
Khác với 100 năm hay vài chục năm trước, do khoa học công nghệ phát triển rất nhanh, các kỹ thuật mới liên tục ra đời, đòi hỏi một người kỹ sư phải liên tục cập nhật mới không bị lạc hậu. Các tiến sỹ cũng thế, tuy nhiên, khi đã "nâng tầm" lên tiến sỹ thì mối quan tâm đến những kỹ thuật cụ thể của một người kỹ sư trong lĩnh vực chuyên ngành cần được thay thế bằng những mối quan tâm có tầm sâu rộng hơn đó là quan tâm đến công nghệ, đến sự phát triển của công nghệ, đến mối quan hệ giữa lĩnh vực chuyên môn của mình với các lĩnh vực khác... Nhưng nói gì thì nói, con người không phải là thánh, cho nên không phải cứ là tiến sỹ thì phải hơn kỹ sư về mọi mặt hay là người cần biết mọi thứ. Sự hình thành và phân bố về kiến thưc trong xã hội có dạng hình chóp, trong đó mỗi mức thực hiện những chức năng khác nhau và như vậy có được một sự phối hợp hài hòa về nhân lực chất xám của xã hội. Do đó một tiến sỹ cần quan tâm nhiều hơn đến công việc nghiên cứu, trên nền những thành tựu đã đạt được ở bước đầu (học vị). Do đó về lý thuyết thì cái nền tảng ban đầu của một tiến sỹ trên con đường tạo ra cái mới mang tính nền tảng học thuật sẽ chẳng đáng là gì so với cả quá trình cống hiến của người ấy. Đây chính là khiếm khuyết có ở nhiều tiến sỹ của Việt Nam. Và điều này gây ra những ấn tượng xâu và sự ngộ nhận trong con mắt của dư luận (ở đây bỏ qua những trường hợp riêng mua bán học vị ...).
Tại sao có tình trạng như vậy? Trước hết đó là do sự nỗ lực của cá nhân trong nghiên cứu. Sau nữa là môi trường xa hội. Tại sao Giáo sư Ngô Bảo Châu không muốn về Việt Nam làm việc? Có phải chủ yếu vì ván đề đãi ngộ? Đãi ngộ là một phần quan trọng, song quan trọng hơn là môi trường làm việc tồi tệ cho người làm công tác nghiên cứu. Một cơ chế tư nhân sẽ dễ dàng sử dụng lao động chất xám, vắt kiệt họ, nhưng ngược lại đãi ngộ và trân trọng họ. Với người nghiên cứu, không gì vui hơn là công việc của mình được đánh giá và sử dụng. Ở Việt Nam, các nghiên cứu không có điều kiện áp dụng (công nghiệp èo uột thế và cái gì cũng mua, cũng nhập hết cần gì?). Chi phí giành cho nghiên cứu giống như trò đùa đối với môi trường nước ngoài - lấy đâu có chất lượng cao? Hơn nữa các loại thủ tục pháp lý liên quan khiến cho một nhà nghiên cứu phải bỏ ra một nửa "trí tuệ" của mình để "nghiên cứu cách thức khép kín" các thủ tục giấy tờ kèm theo. Thậm chí có lúc phải vi phạm cả các quy định tài chính (về hợp đồng, hóa đơn, chứng từ...) để hợp lý hóa đồng lương do công sức thực sự bỏ ra (chưa đủ là khác)...
Nói dài dòng như trên cũng để cho các bạn nào vẫn giữ được đam mê nghiên cứu cần biết cho rõ ràng mọi chuyện để mà
Dấn thân vô là chịu được gian truân
Dù cam go gian khổ cũng bất cần
Bởi tiến sỹ ấy chính là "sỹ" tiến
Thân mến.
|