Đóng góp của công nghệ thông tin vào quá trình công nghiệp hóa
Hải Sơn
Công nghệ thông tin (CNTT) là một trong những ngành công nghệ trẻ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy và tăng sức sản xuất trong nền kinh tế nói chung. Riêng trong lĩnh vực tự động hóa, CNTT có một vai trò rất lớn như là một công cụ hữu hiệu để thực hiên nhiều ý tưởng mà nghành này luôn nhắm tới trước đây.
Chúng tôi xin giới thiêu một bài viết của tác giả Tiến sĩ Wang Changli, chủ tịch công ty Beijing Hollysys với tựa đề tiếng Anh “How does Information Technology Benefit Industrialization?”. Tác gỉa cũng là chủ tịch Hội Đo Lường và Điều Khiển Trung Quốc, phó chủ tịch và chuyên gia của hội tự động hóa Trung Quốc. Hollysys là công ty nội địa lớn nhất ở Trung Quốc về các hệ thống điều khiển phân tán (DCS) chuyên sản xuất, cung cấp và tích hợp các hệ thống DCS trong nhiều ngành như dầu khí, hoá chất, năng lượng, v.v. Chúng tôi mong rằng những bài học kinh nghiêm của Hollysys sau 10 năm ở Trung Quốc, một quốc gia lúc đó có điều kiện gần giống với Việt Nam hiện nay, sẽ đóng góp những ý kiến có ích cho ngành tự động hóa Việt Nam.
Công nghệ thông tin thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và ngược lại. Tuy nhiên chúng ta nên nhớ rằng CNTT chỉ đóng vai trò là công cụ còn công nghiệp hóa mới chính là mục đích cuối cùng.
Chúng ta đã trải qua một thời đại CNTT với những bùng nổ về công nghệ mạng, với nhiều khái niệm lớn có liên quan tới thông tin. Có vẻ như những doanh nghiệp hiện đại không thể hoạt động mà không có một sự hiểu biết đầy đủ về các khái niệm như ERP (Enterprise Resource Planning), SCM (Supply Chain Management), MES (Manufacturing Executives System), hay eBusiness, hoặc các công ty hiện đại không thể tồn tại nếu không áp dụng những công nghệ này.
Những khái niệm liên tục thay đổi này khiến cho khách hàng rất lúng túng và đồng thời những người giới thiệu những khái niệm này cũng không chắc đã hiểu rõ ý nghĩa của chúng. Nói cụ thể hơn, khi những người bán hàng giới thiệu những sản phẩm hay những hệ thống có tính công nghệ mới này, liệu họ có tin chắc rằng những sản phẩm hay những hệ thống này sẽ có giá trị với khách hàng của họ. Trung Quốc đang chuyển đổi từ một nền kinh tế nông nghiệp sang một nền kinh tế công nghiệp và vẫn chưa tới công nghiệp hóa. Vậy CNTT có thể giúp ích gì cho việc công nghiệp hóa? Có thực sự chúng ta đang tạo ra giá trị cho khách hàng hay chỉ quan tâm tới lợi ích của chúng ta?
Thực tế là rất nhiều người sử dụng CNTT không biết cách tận dụng khả năng tăng tính cạnh tranh của CNTT. Trong nhiều trường hợp, do sự chào mời của người bán, người mua sẽ mua những sản phẩm mắc tiền, có nhiều chức năng cao cấp nhưng lại không có khả năng tăng tính cạnh tranh với các chức năng gắn với những khái niệm mới mà không để ý tới thực trạng về trình độ của hệ thống quản lý, nhân sự, và những đòi hỏi cụ thể. Những hệ thống đó thực ra sẽ làm khó khăn cho hoạt động của các tổ chức thay vì cải thiện nó, khiến cho người sử dụng khó chịu dẫn tới mất niềm tin vào CNTT.
Vậy làm thế nào để CNTT thực sự đóng góp vào công nghiệp hóa?
1. CNTT có thể làm gì cho công nghiệp hóa?
1.1. CNTT chỉ giúp cho việc đưa ra quyết định chứ không thể thay thế nó.
Người lãnh đạo của một doanh nghiệp luôn là người phải đưa ra các quyết định. CNTT đem lại các thông tin nhưng người lãnh đạo phải quyết định bằng cách phân tích các thuận lợi và khó khăn về nguồn lực của doanh nghiệp, tình hình cạnh tranh và các đối thủ của mình. Máy tính không thể đưa ra các quyết định.
Ra quyết định là một quá trình lựa chọn các khả năng. Chúng ta gặp nhiều cơ hội, nhưng nguồn lực của doanh nghiệp cũng có hạn. Ra quyết định cũng là quá trình đánh giá các rủi ro. Nếu có quá nhiều thông tin mà không được tổ chức tốt thì việc ra quyết định còn khó khăn hơn. Rất nhiều nhà quản lý các doanh nghiệp tư nhân ở Trung Quốc không có trình độ học vấn cao cũng như không hoàn toàn hiểu biết về CNTT. Nhưng nhiều người có thể đưa ra các quyết định xác đáng và nhiều người đạt được nhiều thành tích lớn. Ngược lại, nhiều công ty lớn có những hệ thống CNTT hiện đại nhưng lại không thành công trong việc đưa ra những quyết định tương ứng. Tuy nhiên, với phần lớn các doanh nghiệp, các hệ thống quản lý thông tin đơn giản và thực tế sẽ chắc chắn giúp những người quản lý phán đoán trước được những rủi ro và đưa ra các quyết định đúng đắn.
1.2. CNTT không thể thay thế nhưng có thể thúc đẩy và giám sát quá trình thực hiện
Những hệ thống CNTT tiến bộ có thể thay thế được một lượng lớn nhân công trong các quá trình sản xuất và có thể cải thiện đáng kể hiệu quả và sự chính xác của quá trình điều khiển. Tuy nhiên con người vẫn đóng vai trò quyết định trong quá trình sản xuất do có khả năng thực hiện đặc biệt. Khi những hệ thống CNTT và điều khiển quá trình đã chạy, chúng chỉ có thể thực thi những chức năng đã được thiết kế sẵn. Nhưng tình hình thị trường và các quá trình sản xuất thay đổi liên tục. Hệ thống thông tin không thể thay thế được người vận hành ở tất cả các khâu trong quá trình sản xuất vì hệ thống thông tin không thể tự giải quyết các tình huống khẩn cấp cũng như không thể đưa ra các giải pháp thực hiện. Tuy nhiên một hệ thống thông tin tốt (bao gồm cả hệ thống tự động hóa) có thể giúp ích rất nhiều trong việc tăng khả năng thực hiện của con người bằng cách đưa ra các luồng thông tin thông suốt, những thông tin phản hồi tức thời, việc xử lý và phân tích các cảnh báo, và hướng dẫn vận hành. Trong lúc đó, nhờ có một lượng thông tin thông suốt và các lưu trữ chính xác về các việc mà người vận hành đã làm nên hệ thống thông tin có thể giám sát công việc tiến hành ở tất cả các khâu trong quá trình sản xuất. Công nghệ mạng cũng giúp cho việc phân phối hàng hóa trực tuyến. Một hệ thống thông tin hữu hiệu có thể giúp tăng năng suất trao đổi thông tin và xử lý, đặc biệt với những doanh nghiệp có văn phòng tại nhiều thành phố khác nhau.
1.3. CNTT có thể cải thiện chất lượng quá trình điều khiển và hiệu suất quá trình sản xuất
Hệ thống thông tin, đặc biệt là hệ thống tự động hóa có thể cải thiện chất lượng quá trình điều khiển và hiệu suất các thiết bị sản xuất. Thí dụ như một chu trình điều khiển thủ công phải mất vài giây, độ chính xác trong khoảng 1-5%, và quá trình điều khiển cũng phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài như trình độ của người vận hành và trạng thái tâm lý lúc đó. Nhưng các hệ thống máy tính thì có thể đạt được tốc độ một chu trình trong một vài phần ngàn giây (điều này rất quan trọng cho các thiết bị lớn đòi hỏi tốc độ xử lý nhanh như hệ thống điều khiển các tua bin trong các nhà máy nhiệt điện), và độ chính xác điều khiển các thông số có thể đạt tới 0,1% -0,5% hay chính xác hơn nữa cho các vòng điều khiển đặc biệt. Chất lượng của sản phẩm có thể được cải thiện nhiều. Cũng vậy với các quá trình sản xuất lớn và phức tạp, người vận hành chỉ có thể thực hiện được các quá trình điều khiển đơn lẻ và đơn giản nhưng các hệ thống điều khiển vi tính có thể tối ưu hóa các quá trình điều khiển phụ thuộc vào tình trạng sản xuất khác nhau (sự thay đổi của nguyên liệu, môi trường, và các sản phẩm yêu cầu) để cải thiện tính hiệu quả của các quá trình rất nhiều.
Bên cạnh đó, các hệ thống thông tin cỡ công ty và hệ thống tự động hóa có thể thu thập và quản lý dữ liệu từ các xưởng tới các thiết bị và từ một thiết bị tới các xưởng, từ các xưởng tới toàn bộ nhà máy và từ nhà máy tới toàn công ty. Vì vậy nên việc giám sát toàn bộ nhà máy có thể thực hiện được và hiệu suất của toàn bộ quá trình sản xuất được tăng lên. Với việc xử lý và phân tích dữ liệu phù hợp, hệ thống thông tin có thể giúp tìm ra các vấn đề về hiệu suất và chi phí phân phối. Chức năng quản lý thiết bị có thể giúp cho việc bảo trì định kỳ để giảm thời gian dừng sản xuất để sửa chữa và tăng sức sản xuất. Chức năng điều khiển theo mẻ tiên tiến sẽ giúp những người vận hành có thể tự động chuyển nhiều thông số cùng một lúc sang chế độ điều khiển hợp lý khi thay đổi sản phẩm hay công suất.
1.4. CNTT có thể tăng rủi ro.
CNTT tăng rủi ro trong khi thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa
1.4.1. Việc tập trung vào thông tin và phụ thuộc nhiều vào quá trình ra quyết định dựa trên hệ thống thông tin sẽ làm cho rủi ro về vận hành bị tập trung vào một nơi. Nếu hệ thống thông tin bị hư hỏng sẽ dẫn tới việc hoạt động của doanh nghiệp bị ngừng trệ.
1.4.2 Hệ thống máy tính có thể
1.4.2.1. Hệ thống máy tính có thể lấy được nhiều thông tin của những chức năng điều khiển và điều này biến những người vận hành thanh những người phục vụ cho hệ thống máy tính. Nếu có sự cố nghiêm trọng xảy ra, có thể xảy ra tai nạn.
1.4.2.2. Các hệ thống thông tin mở cỡ lớn đem lại cho chúng ta những thuận tiện và năng suất lao động cao nhưng làm cho việc bảo vệ thông tin mật cũng khó khăn hơn.
1.4.2.3. Hệ thống thông tin ngày càng tinh vi sẽ có thể trở thành đối tượng phá hoại của các tin tặc hay virus máy tính dẫn tới hư hỏng toàn bộ hệ thống.
1.5. Làm thế nào để CNTT thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa?
CNTT sẽ chỉ có ích lợi khi nào nó phù hợp với trình độ công nghiệp hóa.
1.5.1. Một sự lãnh đạo tốt vẫn là yếu tố quyết định với sự thành công của doanh nghiệp. CNTT sẽ chỉ có ích lợi khi nào nó phù hợp với những người lãnh đạo doanh nghiệp.
1.5.2. Nhân viên ở tất cả các cấp trong doanh nghiệp ( nhà quản lý, chuyên gia kỹ thuật, người vận hành trực tiếp) là những người thực hiện các quyết định của cấp quản lý và là những người vận hành thực sự của hệ thống thông tin ( bao gồm hệ thống điều khiển). Hệ thống thông tin phải bao quát tới tất cả các cấp của họ, trừ khi những người không phù hợp có thể bị thay thế. Sẽ là không khôn ngoan khi đòi hỏi tất cả nhân viên phải điều chỉnh thích nghi với hệ thống thông tin.
1.5.3. Khi phát triển và ứng dụng các hệ thống thông tin, các nhà cung cấp phải đào tạo đúng mức cho người sử dụng ( cả người quyết định và người thực hiện ở tất cả các cấp) và thiết kế hệ thống thông tin phù hợp với yêu cầu thực tế của người sử dụng. Các cơ sở công nghiệp của Trung Quốc bao gồm từ những xưởng nhỏ nhất tới những tập đoàn đa quốc gia hiện đại, với trình độ công nghiệp từ thế kỷ 16 hay 17 tới thế kỷ 21. Thậm chí những giải pháp hệ thống thông tin tốt nhất cũng không thể thỏa mãn được nhu cầu của tất cả những người sử dụng ở Trung Quốc. Chỉ có những giải pháp thực tế nhất là những giải pháp có hiệu quả nhất.
1.5.4. Giá thành cũng là yếu tố phải tính đến. Tình hình hiện nay của Trung Quốc quyết định rằng nguồn lực lớn nhất của chúng ta (theo lợi thế cạnh tranh tương đối trên thế giới) là nhân công giá rẻ. Trước khi áp dụng bất cứ hệ thống thông tin hay tự động hóa nào cần phải tính toán những giá trị gia tăng tạo ra bởi việc thay thế nhân công bằng hệ thống máy tính. Trong nhiều hoàn cảnh, sức lao động rẻ hơn rất nhiều so với giá CNTT. Trong những trường hợp đó, cần phải sử dụng nhân công và hệ thống tin học sẽ đóng vai trò giúp đỡ bộ máy quản lý và hệ thống giám sát thực hiện.
1.5.5. Có những khả năng nhỏ để áp dụng những hệ thống kinh doanh điện tử ở Trung Quốc trước khi hoàn thiện hệ thống luật pháp và hiện đại hóa hệ thống ngân hàng. Các hệ thống CNTT hiệu quả nhất là các hệ thống điều khiển tự động trong các nhà máy, quản lý tài chính và hệ thống quản trị doanh nghiệp thực tế, v.v. Để chắc chắn rằng số tiền mà khách hàng của chúng ta đầu tư vào lĩnh vực CNTT dù là nhỏ nhất sẽ tạo ra giá trị, chúng ta phải có thể thuyết phục những khách hàng công nghiệp ứng dụng CNTT.
(… Còn tiếp phần 2…)